BÙI MINH ĐỨC...Vua Minh Mạng (1791-1841) lúc sinh thời đã có đến 43 bà phi tần nhưng người vợ đầu tiên của vua là bà Hồ Thị Hoa (1791-1807). Bà nầy là một người hiếu đức hiền thục và cũng là con của một công thần nên Bà đã được Vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển chọn đưa vào cung Tiềm để hầu hạ cho Hoàng tử con mình...
I/ DẪN NHẬP: Mỗi khi nghiên cứu về tiếng Huế, các học giả thường gặp phải nhiều trường hợp tên húy của các vua chúa trong Vương triều nhà Nguyễn đã được dân chúng Huế “nói trệch qua một bên” và “viết trật một vài nét” theo phép kỵ húy của triều đình hồi đó ban ra. Luật kỵ húy nầy thường chỉ áp dụng đối với tên của các vua chúa nhà Nguyễn mà thôi. Tuy nhiên, trong thực tế đã có một trường hợp rất đặc biệt là luật kỵ húy đã được áp dụng cho “tên húy” của một bà Hoàng Hậu triều Nguyễn, không những chỉ trong các văn bài của các sĩ tử khi đi thi mà cả trong câu chuyện hàng ngày của người dân xứ Huế. Đó là trường hợp của bà “Hồ Thị Hoa”, vợ vua Minh Mạng. Vua Minh Mạng (1791-1841) lúc sinh thời đã có đến 43 bà phi tần nhưng người vợ đầu tiên của vua là bà Hồ Thị Hoa (1791-1807). Bà nầy là một người hiếu đức hiền thục và cũng là con của một công thần nên Bà đã được Vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển chọn đưa vào cung Tiềm để hầu hạ cho Hoàng tử con mình. Hoàng tử nầy là vua Minh Mạng sau nầy. Bà được tiến cung năm 1806 khi vua Minh Mạng chưa được tấn phong làm Thái tử (1815-1820). Năm 1807, bà sinh được một người con trai là vua Thiệu Trị sau nầy nhưng chỉ mới 13 ngày sau khi sinh thì bà qua đời. Sau khi bà mất, đến năm 1821 lúc Minh Mạng vừa mới lên ngôi vua được một năm, bà được sách tặng chức “Chiêu Nghi”, và vào năm 1836, bà được sách tặng là “Thân Phi”. Đến năm 1841, bà được Vua Thiệu Trị, con ruột của bà, phong tặng chức “Tả Thiên Nhân Hoàng Hậu”. Theo “Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả” (Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc, Huế, 1994) đã ghi về bà thì: “Tháng năm năm Đinh Mão (1807), bà sinh Hiến Tổ Chương Hoàng Đế mới được 13 ngày thì bà mất”. Bà mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh Mão (28.6.1807) lúc mới 17 tuổi”.Dân chúng Huế ngay từ hồi bà mới mất đã nói trệch tên “Hoa” của bà thành tên “Huê” và dùng chữ “Huê” để nói đến “Hoa” như “Huê viên” hay “Phàn Lê Huê” chẳng hạn. Không những thế, dân chúng Huế lại còn đi xa hơn luật kỵ húy đương thời đòi hỏi, đã không những dùng chữ “Huê” nói trệch từ chữ “Hoa” ra mà còn thay thế hẳn chữ “Hoa” kỵ húy bằng một vài chữ khác là “Ba” và Bông”. Ví dụ họ nói “Ba viên” thay cho “Hoa viên”, “Bông ba hoa quả” thay cho “hoa quả” và dùng chữ “Đông Ba” để thay cho chữ “Đông Hoa”. Một điểm đặc biệt nữa là dân chúng Huế đã thay thế tên húy của bà Hậu nầy bằng những tên bằng chữ Nôm như “Ba, Bông”, mặc dầu nếu với chữ Hán, như chữ “Đông Hoa” nghe ra vẫn hay ho hơn là chữ “Đông Ba” chẳng hạn. Mãi cho đến nay (2008), người Huế vẫn còn dùng chữ “Huê”, chữ “Ba” và chữ “Bông” để thay thế chữ “Hoa” và vì thế, ở Huế vẫn còn có người quen miệng dùng chữ “Ba viên” hay “Huê viên” để chỉ “Hoa viên”. II/ ĐẶT VẤN ĐỀ VỀ CÁI CHẾT CỦA BÀ HỒ THỊ HOA: Hai câu hỏi đã được chúng tôi nêu ra trong trường hợp của bà Hoàng hậu Hồ Thị Hoa là: 1/ Vì sao tên bà vợ đầu tiên của vua Minh Mạng cũng đã được dân chúng Huế áp dụng luật “kỵ húy”, thường chính thức chỉ áp dụng cho tên các vua chúa mà thôi? Và vì sao, dân chúng Huế lại còn thay thế hẳn tên húy “Hoa” bằng các tên Nôm “Ba, Bông” chứ không phải chỉ cần nói trệch tên “Hoa” ra thành tên “Huê” là đủ? 2/ Vì sao, là một bà Hoàng hậu với nhiều Ngự Y tài giỏi luôn luôn túc trực sẵn sàng trong Nội Cung mà bà Hoàng hậu nầy đã phải qua đời trong thời kỳ hậu sản, chỉ 13 ngày sau khi sinh con? Chứng bệnh hậu sản gây nên cái chết của bà Hoàng Hậu nầy là thứ bệnh gì theo lý đoán của Y khoa ngày nay? III/ VÌ SAO NGƯỜI HUẾ ĐÃ “NÓI TRỆCH” VÀ “NÓI TRÁNH” TÊN CỦA BÀ HỒ THỊ HOA?: Đây là câu hỏi thứ nhất mà chúng tôi đã nêu ra ở trên. Nếu chúng ta xét kỹ những sử liệu còn sót lại ngày nay, chúng ta sẽ thấy nguyên nhân mà người Huế đã không những “nói trệch” mà còn “nói tránh” tên của bà Hồ Thị Hoa vì những lý do sau đây: 1/ Bà là người hiền hậu, đức độ và hiếu để: ‘Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả” đã có ghi “Năm Bính dần, đức Thế tổ và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển chọn con gái công thần là phi cho Thánh Tổ nên bà được vào hầu nơi tiềm để. Bà tính dịu dàng thận trọng, hiều đức, một lòng hiếu kính nên Thế Tổ rất ngợi khen ban cho tên “Thật”.Tánh tình của bà là tánh tình của người đàn bà con gái Huế, rất phù hợp với bản tính của những con người xứ Huế. 2/ Bà mất sớm, ngay sau khi sinh xong: Theo “Nguyễn Phúc Tộc Thế Phổ”, bà qua đời khi đang còn rất trẻ, chỉ mới 17 tuổi đời mà thôi: “Tháng năm năm Đinh Mão (1807), bà sinh Hiến Tổ Chương Hoàng Đế mới được 13 ngày thì bà mất”. Tuổi còn quá trẻ mà đã qua đời và nhất là qua đời sau khi vừa sinh con xong, với tình cảnh “con vuông nhưng mẹ không tròn”, bà đã để lại một đứa con thơ đang còn măng sữa một mình trên dương thế trần đời, thử hỏi ai mà không mủi lòng? Dân Huế đã cảm thương cho con người xấu số đó và vì thế đã dành nhiều thiện cảm cho bà Hồ Thị Hoa. 3/ Vua Minh Mạng là một người chồng lãng mạn và tình nghĩa: Năm bà mất (1807), Vua Minh Mạng vào hồi đó vẫn đang còn trong cảnh hàn vi, chưa được tấn phong “Hoàng Thái tử” và chỉ được phong “Thái tử” vào năm 1815 tức 8 năm sau khi bà qua đời. Trước khi liệm, vua Minh Mạng đã đặt một thỏi vàng vào trong tay bà và ngậm ngùi giải thích với người chết: “Khi khanh còn sống, khanh thường lo sợ khi chết không có một mảnh vàng trong tay để đi đường làm lộ phí, thì đây ta cho khanh để khanh được an lòng”. Cách xử sự của nhà vua là một cách xử sự tuy lãng mạn nhưng rất hợp tình và hợp lý, hợp với lòng người dân trong xứ Huế. Điều này đã chứng minh nhà vua là một con người tình cảm, chứng minh được tình thương đậm đà và sự chung thủy của nhà vua đối với với người vợ đầu tiên nhưng xấu số của mình. Những điều nầy đã đánh trúng yếu điểm tâm lý của những con người lãng mạn xứ Huế và dân chúng Huế đã dành cho bà Hồ Thị Hoa nhiều tình cảm tốt đẹp là cũng vì vậy. Ba lý do trên đây đủ để giải thích tình cảm sâu sắc mà dân chúng Huế đã dành cho bà Hồ Thị Hoa và cho cả vua Minh Mạng. Cũng vì tình cảm sâu đậm đó mà người Huế đã đi một bước xa hơn trên con đường tình nghĩa bằng cách không những đã cố ý “nói trệch” tên bà mà còn cố ý “nói tránh” tên bà để tỏ lòng thương quý ngưỡng mộ của mình đối với bà. Dân chúng Huế đã tự động tôn kính bà chứ không phải vì đã có lệnh vua ban ra. Tình cảm đó do tự nhiên mà có chứ không bao giờ do ép buộc mà được. Ngoài ra, để gỉải thích vì sao người dân Huế đã dùng các tên Nôm “Ba”, “Bông”và “Huê” để thay tên “Hoa” của bà, ta phải cần hiểu tiếng Nôm ngày xưa là tiếng nói của dân gian. Dân chúng Huế với đa số là thành phần dân gian mộc mạc ít học chữ Hán nên vì thế họ đã phải lấy những từ ngữ dân giã để dùng làm tên mới cho bà, những tên quen thuộc hơn và dễ phát âm đối với họ hơn. Vì thế, ta chẳng nên lấy làm lạ về những “tên Nôm” của họ dành riêng để nói về bà thay vì nhắc đến tên “Thật” hay tên “Hoa” của bà. nguồn: Chứng bệnh hậu sản của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng |
No comments:
Post a Comment